The full responsibility of the Vietnam Electricity Corporation for million tons of coal ash discharged by thermal power plants into the environ- ment in Binh Thuan

 PGS TS NGUYỄN ĐỨC KHIỂN
Nguyên Giám đốc Sở KHCNMT Hà Nội

Hiện có khoảng 4 triệu tấn tro xỉ than từ Nhà máy nhiệt điện Vĩnh Tân 2 (xã Vĩnh Tân, huyện Tuy Phong, Bình Thuận) chưa có “đầu ra” đang là mối lo ngại cho các cấp chính quyền địa phương.

Trong khi đó, nhà máy nhiệt điện Vĩnh Tân 4 và Vĩnh Tân I bắt đầu hoạt động thương mại; đồng thời nhà máy nhiệt điện Vĩnh Tân 4 mở rộng cũng lắp đặt xong trên 70 % khối lượng. Tuy nhiên, hiện vẫn chưa có nhà máy nào hoàn thành đề án tiêu thụ tro xỉ than này. Hiện nay bãi xỉ của Vĩnh Tân 2 đã cao khoảng 20 m (nằm trong khu vực rộng 40 ha) sau hơn 3 năm đi vào hoạt động chính thức. Nhà máy nhiệt điện Vĩnh Tân 2 có 2 tổ máy với công suất 1.244 MW, mỗi ngày 2 tổ máy này đốt khoảng hơn 14.000 tấn than và thải ra lượng tro xỉ từ 3.500 đến 4.000 tấn (tương đương 37,5 %), mỗi năm thải ra chừng 1,2 triệu tấn.

Còn lại bãi xỉ than của nhiệt điện Vĩnh Tân 1 (rộng gần 60 ha), cũng đã có hơn 3.000 tấn tro xỉ sau khi 2 tổ máy của nhà máy này đi vào hoạt động thử nghiệm. Nhà máy Vĩnh Tân 1 cũng có 2 tổ máy (nhưng chỉ 1.200 MW), hiện đã có 1 tổ máy phát điện thương mại (tổ máy còn lại đang phát thử nghiệm) và lượng tro xỉ than  thải ra khoảng 25 – 30 % (tức khoảng 3.500 tấn/ngày; khoảng hơn 1,1 triệu tấn/năm).

Riêng nhà máy Vĩnh Tân 4 (2 tổ máy 1.200 MW) và Vĩnh Tân 4 mở rộng (1 tổ máy 600 MW) cũng đốt bằng than nhập khẩu (không đốt than trong nước) nên lượng tro xỉ chỉ thải ra 4 %. Còn nhà máy Vĩnh Tân 3 (3 tổ máy, 1.980 MW) cho tới nay mới chỉ san gạt xong mặt bằng, chưa khởi công. Toàn bộ Trung tâm nhiệt điện Vĩnh Tân được đầu tư tương đương khoảng 10 tỉ USD. Khi các nhà máy nói trên đều đi vào hoạt động sẽ phát sinh khoảng 3,8 triệu tấn xỉ than mỗi năm. (Báo TN ngày 8/10/2018)

NỖI LO Ô NHIỄM MÔI TRƯỜNG

Ông Nguyễn Văn Phúc, người dân thôn Vĩnh Phúc (xã Vĩnh Tân), cho biết bãi xỉ ngày càng cao, khiến người dân lo ngại vỡ bờ bao. “Bãi xỉ này họ dùng xỉ đắp rồi lát đá, không có móng kiên cố. Nếu bãi xỉ quá cao mà vẫn không có đầu ra thì nguy cơ vỡ bãi xỉ là rất có thể. Chúng tôi đã kiến nghị với chính quyền nhiều lần vấn đề này rồi”, ông Phúc lo ngại.

Ông Nguyễn Thanh Sang, Chủ tịch UBND xã Vĩnh Tân, cho biết bãi xỉ Vĩnh Tân hiện nay luôn là nỗi lo của chính quyền và người dân địa phương. “Nắng lo mùa nắng, mưa lo mưa. Nắng thì sợ bãi xỉ phát tán khói bụi vào khu dân cư. Mưa thì lo bãi xỉ có thể vỡ bờ bao. Theo chỉ đạo của UBND huyện, hiện chúng tôi có một tổ chuyên trách luôn kiểm soát, theo dõi bãi xỉ. Lo cho bãi xỉ mệt lắm anh à!”, ông Sang lo lắng.

Trong khi đó, theo ông Huỳnh Văn Điển – Chủ tịch UBND huyện Tuy Phong, lo ngại lớn nhất hiện nay ở Trung tâm nhiệt điện Vĩnh Tân (5 nhà máy, nhà máy số 3 chưa khởi công) chính là không có lối ra tiêu thụ tro xỉ than.

“Bài toán tiêu thụ tro xỉ than vẫn chưa có lời giải dù Vĩnh Tân 2 đã hoạt động 3 năm. Các nhà máy khác cũng sắp hoạt động chính thức, chắc chắn là vấn đề môi trường, đặc biệt là môi trường liên quan xỉ than sẽ là vấn đề nóng. Nó sẽ ảnh hưởng rất lớn đến cuộc sống của người dân địa phương. Vì vậy đề nghị tỉnh và các bộ ngành phải có giải pháp quyết liệt để giải quyết đầu ra cho tro xỉ than như đã cam kết”, ông Điển nói.

Trong khi đó, theo tìm hiểu của PV Thanh niên, cho tới thời điểm này chưa có bất cứ đơn vị nào ký hợp đồng chính thức tiêu thụ tro xỉ than Vĩnh Tân. Ông Nguyễn Ngọc Hai, Chủ tịch UBND tỉnh Bình Thuận, cho biết hiện có một đơn vị có năng lực trong tiêu thụ tro xỉ than ở Quảng Ninh muốn đầu tư nhà máy tiêu thụ tro xỉ ở Vĩnh Tân.

Liên quan tiến độ nhà mày tiêu thụ tro xỉ than của Công ty TNHH Mãi Xanh (sử dụng tro xỉ để làm  gạch  –  PV) ông  Hai  cho  hay:  “Ngày  2/10 UBND tỉnh triệu tập cuộc họp để bàn tiếp nhưng Công ty Mãi Xanh không cử đại diện đến dự với lý do sếp đang ở nước ngoài. Trường hợp Nhà máy Mãi Xanh chậm tiến độ và chủ đầu tư này không có năng lực, thì chúng tôi tính đến việc thu hồi dự án để giao cho nhà đầu tư tiềm năng khác” (TN ngày 8/10/2018).

Lãnh đạo tỉnh Long An cho biết đã đi tìm hiểu và tiếp xúc với nhiều nhà đầu tư nhiệt điện than đến từ các nước phát triển như: Nhật Bản, Hàn Quốc nhưng vẫn không thể yên tâm. Các nhà khoa học từng nhiều lần lên tiếng cảnh báo việc trung tâm điện lực Long An được xây dựng, sử dụng nguyên liệu than sẽ làm tăng ô nhiễm không khí đối với thành phố Hồ Chí Minh. Đây là vấn đề hết sức quan trọng vì TP. HCM là trung tâm kinh tế tài chính lớn nhất nước, nơi có hàng chục triệu dân cư và tác hại đến nền kinh tế là rất lớn khi sức khỏe người đân bị ảnh hưởng. Trong thời gian gần đây, Long An đã cấp phép đầu tư một số dự án điện mặt trời. Theo các chuyên gia, nếu tỉnh Long An kiên quyết không chấp nhận nhiệt điện than, nhiều khả năng dự án này sẽ phải hủy bỏ. Trước đó, tỉnh Bạc Liêu cũng đã từ chối dự án nhiệt định than (Cái Cùng) để bảo vệ sản xuất nông nghiệp, nhất là nghề nuôi tôm và thay vào đó phát triển điện gió. Tại Bạc Liêu, khu vực phát triển điện gió hiện còn là điểm du lịch có tiếng của tỉnh. (Thanh Niên, ngày 25/9/2018)

Quyết định của UBND tỉnh Long An là đúng đắn. Người tiêu dung lo lắng không phải chỉ chịu giá điện cao mà lo lắng nhất là ô nhiễm môi trường. Ngay Trung Quốc cũng tháo dỡ toàn bộ nhà máy nhiệt điện than, các nước châu Âu cũng đình chỉ việc phát triển nhiệt điện than vì ô nhiễm. Tại Việt Nam nhiệt điện than đang gây ô nhiễm nguồn nước, không khí độc và bụi than ở nhiều vùng. Nhiều nhà máy tích lũy tro xỉ than ngày càng lớn vì khả năng tái chế không vượt quá 50 %. Dân cư quanh nhà máy nhiệt điện than đều rất lo vì ô nhiễm. Nhà nước nên nghiêm khắc, cấm các doanh nghiệp vì lợi ích nhóm mà nhập các nhà máy nhiệt điện than bị thải loại đưa vào Việt Nam, nhất là của Trung Quốc.

Trả lời kiến nghị này, ngày 12/9/2018, Thứ trưởng bộ Công-Thương Hoàng Quốc Vượng ký văn bản gửi UBND tỉnh Long An. Theo Bộ Công thương, TTĐL Long An được lập theo Quy hoạch điện VII điều chỉnh đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 428/QĐ-TTg, ngày 18/3/2016.

Quy hoạch TTĐL Long An sẽ sử dụng nguyên liệu than, tổng vốn đầu tư trên 5 tỉ USD, gồm 2 nhà máy: Long An I với quy mô 2 x 600 MW, vận hành năm 2024 – 2025; Long An II với quy mô 2 x 800 MW, vận hành năm 2027 – 2028; dự kiến xây dựng tại ấp Long Ninh, xã Long Hựu Đông, huyện Cần Đước bên bờ sông Vàm Cỏ. Tổng diện tích sử dụng trên bờ và mặt nước được quy hoạch trên 360 ha (trên bờ 232,18 ha, mặt nước 129 ha). Nhu cầu than 7,6 triệu tấn/năm (2 nhà máy). Lượng tro xỉ của 2 nhà máy là 450.000 tấn/năm. Tổng lượng nước làm mát cho 2 nhà máy là 130 m3/giây. Đây là một trong những dự án năng lượng đầu tư theo hình thức BOT. Các dự án khi vận hành hằng năm sản xuất khoảng 17 tỉ kWh, tham gia cấp điện cho tỉnh, các tỉnh phía nam và hệ thống điện quốc gia.

Đây là việc làm biết trước là kết quả xấu, ảnh hưởng không chỉ đến với nhân dân Long An, mà ảnh hưởng nghiêm trọng đến phát triển kinh tế – xã hội của thành phố Hồ Chí Minh. Việc UBND tỉnh Long An không chỉ nghĩ cho mình mà nghĩ đến lợi ích chung là hoàn toàn đúng đắn. Trước khi quyết định tỉnh đã khảo sát ở nhiều nước và lắng nghe nhiều ý khiến của các nhà khoa học, như vậy việc làm của tỉnh Long An rất nghiêm túc và thận trọng, có trách nhiệm và đứng đắn, lẽ nào Bộ Công-Thương nhắm mắt làm ngơ. Nếu các vị sợ trách nhiệm thì cần phải xin ý kiến của Chính phủ trước khi quyết định. Tôi tin rằng Chính phủ bao giờ cũng đặt lợi ích chung lên trên và xem lợi ích môi trường làm trọng.

Tại sao thế giới đã có chủ trương chấm dứt công nghệ nhiệt điện than rồi mà Tổng công ty Điện lực cố tình áp đặt các địa phương phải tiếp tục sử dụng công nghệ lạc hậu này. Đó có phải vì lợi ích quốc gia hay vì lợi ích nhóm. Tôi đề nghị Bộ Công-Thương và các cơ quan nhà nước nên thanh tra kỹ các dự án nhiệt điện than của Tổng công ty Điện lực. Không thể lấy lý do đã quy hoạch mà tiếp nhận dự án ô nhiễm, quy hoạch do ta vạch ra, nếu thấy không hợp lý phải sửa chữa không thể bảo thủ. Ô nhiễm do nhiệt điện than thì Tổng công ty điện lực VN phải chịu trách nhiệm.

Theo ông Đặng Văn Thành, Chủ tịch Tập đoàn TTC, phát triển năng lượng sạch là xu hướng tất yếu và đã tăng trưởng nhiều trong các năm qua trên thế giới. Việt Nam đang phát triển, có nhu cầu sử dụng điện cao, việc giảm tỷ lệ năng lượng hóa thạch thay thế bằng nguồn năng lượng sạch đang là hướng đi được Chính phủ đặc biệt quan tâm và chỉ đạo thúc đẩy trong thời gian qua. TTC đang thực hiện các dự án năng lượng khác như điện gió, điện mặt trời, rooftop (điện mặt trời trên mái nhà).

Sau năm 2020, Việt Nam có khả năng không cần xây dựng nhà máy nhiệt điện than mới mà vẫn duy trì hệ thống năng lượng an toàn với giá cả hợp lý. Đó là nội dung chính của “Bản thiết kế cho tương lai năng lượng sạch của Việt Nam” do Trung tâm phát triển Sáng tạo Xanh (GreenID) công bố gần đây. Bản thiết kế được xây dựng theo hướng có lợi cho sức khỏe, hợp lý về chi phí và đảm bảo an ninh năng lượng quốc gia.

Không chỉ doanh nghiệp trong nước và nước ngoài đầu tư ngày càng nhiều vào các dự án điện gió, điện mặt trời, thời của năng lượng xanh tại Việt Nam còn được thể hiện qua việc nhiều người dân và chính quyền địa phương nói “không” với nhiệt điện than. (Báo Thanh niên ngày 7/10/2018)

 CÚ HÍCH VỀ GIÁ

Từ ngày 1.11 tới, giá mua điện gió được điều chỉnh tăng từ 7,8 lên 8,75 US cent/ kWh cho các dự án điện gió trong đất liền và 9,8 cent cho các dự án điện gió trên biển. Đây được coi là cú hích cho các dự án điện gió đã được cấp phép và sẽ thu hút thêm nhiều doanh nghiệp  đầu tư vào lĩnh vực này. Bởi trước đó giá là nút thắt lớn nhất khiến dự án chậm triển khai, nhà đầu tư không mặn mà. Là địa phương phát triển mạnh các dự án điện gió, ông Bùi Văn Thịnh, Chủ tịch Hiệp hội Điện gió Bình Thuận, phân tích giá điện gió hiện tại (7,8 cent/kWh) là quá thấp, nhà đầu tư không có lãi. Nay Thủ tướng điều chỉnh tăng gần 10 %; giá 8,5 cent/kWh là giá tốt cho các dự án đang triển khai.

Ông Tobias Cossen, Giám đốc dự án “Hỗ trợ mở rộng quy mô điện gió tại Việt Nam” thuộc Chương trình hỗ trợ năng lượng GIZ (Đức), bình luận: “Với tín hiệu rõ rang khi Chính phủ tăng giá mua điện gió, chúng tôi hy vọng nhiều dự án sẽ được xúc tiến và nhanh chóng đi vào hoạt động. Giá điện gió sửa đổi sẽ đem đến sự đảm bảo cho các nhà đầu tư và các tổ chức tài chính đang cung cấp các khoản vay dài hạn”. Dù vậy, ông Tobias Cossen cho rằng mức giá này vẫn thấp hơn so với các thị trường khác trong khu vực Đông Nam Á. Theo ông này, nhu cầu năng lượng ở Việt Nam ngày càng tăng, Việt Nam cũng có nguồn năng lượng gió dồi dào nên thu hút sự quan tâm của nhiều nhà phát triển trong thời gian qua. Tuy nhiên, biểu giá điện gió được công bố năm 2011 thấp đã làm chậm tiến độ của nhiều dự án bởi nhà đầu tư và tổ chức tài chính vẫn còn lo ngại về rủi ro tài chính.

Với mức giá mua điện được điều chỉnh, theo các chuyên gia, đã đảm bảo cho nhà đầu tư có lãi. Vì vậy, khả năng trong thời gian tới sẽ có thêm nhiều dự án điện gió được triển khai. Minh chứng thấy rõ ở lĩnh vực tương tự là điện mặt trời. Theo Quyết định 11/2017/QĐ-TTg có hiệu lực từ ngày 1/6/2017 đến 30/6/2019, bên mua điện có trách nhiệm mua toàn bộ sản lương điện từ các dự án nối lưới với giá mua điện tại điểm giao nhận điện là 2.086 đồng/kWh (chưa bao gồm thuế giá trị gia tăng, tương đương 9,35 US cent/kWh). Một năm từ ngày quyết định có hiệu lực, ông Nguyễn Ninh Hải, Phó trưởng phòng Năng lượng tái tạo, Cục Điện lực và Năng lượng tái tạo (Bộ Công-Thương) cho biết: Đã có 100 dự án điện mặt trời quy mô lớn được bổ sung vào quy hoạch điện cấp tỉnh/quốc gia. Trong đó, tổng công suất đăng ký là 4,7 gigawatt (GW) vào năm 2020. Đối với điện mặt trời trên mái nhà nối lưới dù vướng chính sách nhưng cũng đã có 748 dự án được triển khai trên cả nước, với tổng công suất 11,55 MW.

“Quyết định 11 đã tạo “cú hích” cho thị trường điện mặt trời tại Việt Nam. Đặc biệt, cơ chế dành cho các dự án điện mặt trời quy mô lớn đã rất hấp dẫn các nhà đầu tư”, ông Hải nói.

 TIẾT KIỆM ĐIỆN NĂNG, GIẢM THIỂU Ô NHIỄM MÔI TRƯỜNG

Theo Tổ chức Hợp tác phát triển Đức (GIZ), tiềm năng kỹ thuật của điện gió ở Việt Nam rất lớn, khoảng 27 GW và có thể thay thế phần lớn lượng nhiệt điện (sản xuất  từ than và khí gas) trong tương lai. Ngay cả khi nguồn năng lượng tái tạo từ gió hoặc năng lượng mặt trời có lúc không ổn định, hệ thống điện của Việt Nam vẫn có thể tiếp nhận một lượng điện lớn từ năng lượng tái tạo và sau khi được mở rộng, thích ứng và nâng cấp để trở thành “lưới điện thông minh”, hệ thống có thể tích hợp một lượng điện từ nguồn tái tạo lớn hơn nữa. GIZ đánh giá cao điều chỉnh về giá điện gió của Chính phủ, coi đây là một tín hiệu tích cực và đặc biệt quan trọng đối với các bên liên quan nhằm thúc đẩy đầu tư vào thị trường điện gió ở Việt Nam – thị trường hiện chỉ có 200 MW công suất lắp đặt (và 100 MW công suất đang trong quá trình xây dựng). Đối với điện mặt trời cũng tương tự, tiềm năng kỹ thuật lên đến 300 GW. Việc Chính phủ công bố Quyết định 11 là một bước tiến quan trọng, tạo cơ chế thu hút đầu tư tư nhân vào phát triển điện mặt trời (TN, ngày 7.10.2018).

Mới nhất, ngày 4/10, Tập đoàn Thành Thành Công (TTC) và Công ty CP điện Gia Lai (GEC, đơn vị thành viên TTC) khánh thành Nhà máy điện mặt trời TTC Phong Điền (tại thôn Mỹ Hòa, xã Điền Lộc, huyện Phong Điền, Thừa Thiên – Huế) với công suất 35 MW. Nhà máy được xây dựng trên khu đất 45 ha, tổng mức đầu tư gần 1.000 tỉ đồng. 145.560 tấm pin năng lượng mặt trời đã được hơn 300 công nhân và kỹ sư trong và ngoài nước lắp đặt sẽ hấp thụ bức xạ cua ánh nắng mặt trời và chuyển đổi thành điện năng hòa vào hệ thống tải điện. Nhà máy phát điện với sản lượng khoảng 60 triệu kWh/năm, gần bằng mức tiêu thụ điện hằng năm của khoảng 32.628 hộ gia đình ở VN, ước tính giảm phát thải CO2 khoảng 20.503 tấn/năm.

Viện Năng lượng (Bộ Công-Thương) có cùng nhận định: Việt Nam có tiềm năng phát triển các nguồn năng lượng tái tạo sẵn có. Đặc biệt là năng lượng mặt trời, tương đương với các nước trong khu vực có thị trường phát triển như Trung Quốc, Thái Lan… hay những thị trường truyền thống như Ý, Tây Ban Nha. Trung bình tổng bức xạ năng lượng mặt trời ở Việt Nam vào khoảng 5 kWh/km2/ngày ở các tỉnh miền Trung, miền Nam, vào khoảng 4 kWh/km2/ngày ở các tỉnh miền Bắc với số giờ nóng 1.700 – 2.500 giờ/năm. Việc chú trọng tiếp cận phát triển nguồn năng lượng mới này không chỉ kịp thời đáp ứng nhu cầu năng lượng của xã hội mà còn giúp tiết kiệm điện năng và giảm thiểu ô nhiễm môi trường. Phát triển năng lượng tái tạo là vấn đề hết sức cấp thiết đối với Việt Nam.

Theo  mục  tiêu  của  Chính  phủ  trong  Quy hoạch điện VII điều chỉnh (QHĐ VII ĐC), điện mặt trời dự kiến sẽ trở thành nguồn năng lượng tái tạo chính trong tương lai, với công suất lắp đặt tăng từ (6 – 7) MW vào cuối năm 2017 lên 850 MW năm 2020, tương ứng 1,6 % tổng lượng điện của cả nước. Con số này dự kiến sẽ tăng lên 12.000 MW năm 2030, tương ứng 3,3 % tổng sản lượng điện cả nước.

Những vấn đề tôi nêu trên, muốn chứng minh với Tổng công ty Điện lực rằng quan điểm phát triển nhiệt điện than bằng mọi giá là quá lỗi thời, lạc hậu; phải nhanh chóng thay đổi để đất nước được nhờ. Việt Nam phải được phát triển bền vững như lãnh đạo nhà nước nhiều lần đã khẳng định.

Bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

You may use these HTML tags and attributes: <a href="" title=""> <abbr title=""> <acronym title=""> <b> <blockquote cite=""> <cite> <code> <del datetime=""> <em> <i> <q cite=""> <strike> <strong>