Sustainable development of Vietnam steel industry in the period 2018-2035 from the point of view of mineral resource

TS NGHIÊM GIA, Hội KHKT Đúc – Luyện kim Việt Nam
ThS NGUYỄN QUANG DŨNG, Viện Luyện kim đen
KS BÙI HUY TUẤN, TCTy Thép Việt Nam-CTCP (VNSTEEL)
Email: nghiemgia53@gmail.com

Trong những năm qua hoạt động thăm dò, khai thác, tuyển, chế biến và kinh doanh khoáng sản (gọi tắt là HĐKS) của ngành Thép Việt Nam đã góp phần đáng kể vào tăng trưởng của ngành công nghiệp Việt Nam [1,2]. Nhưng do việc quản lý HĐKS còn hạn chế đã dẫn đến: i) Năng suất lao động thấp, tổn thất khoáng sản trong khai thác và tuyển cao, chất lượng sản phẩm bị hạn chế; ii) Gây sự cố môi trường về trượt lở bãi thải và tai nạn lao động (TNLĐ) chết người iii) Không chú trọng đầu tư lâu dài cho thăm dò, tìm kiếm mỏ mới và chế biến sâu tài nguyên khoáng sản… Để khắc phục các tồn tại đã nêu, cần tìm giải pháp để HĐKS có hiệu quả, tiết kiệm, an toàn và bảo vệ môi trường (BVMT) bền vững, đáp ứng nhu cầu nguyên liệu cho ngành thép Việt Nam giai đoạn 2018-2035

1. ĐÁNH GIÁ TIỀM NĂNG TÀI NGUYÊN KHOÁNG SẢN ĐỐI VỚI SỰ PHÁT TRIỂN NGÀNH THÉP VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 2018-2035

Tài nguyên khoáng sản (TNKS) được hình thành và tồn tại trong tự nhiên là nguồn lực để phát triển kinh tế-xã hội. TNKS đóng vai trò quan trọng đối với sự phát triển ngành thép Việt Nam. HĐKS mang lại nhiều lợi ích kinh tế và tác động tích cực cho phát triển kinh tế-xã hội, song cũng đã gây tác động đến môi trường tự nhiên (môi trường đất, nước, rừng, biển và hệ sinh thái).

TNKS sử dụng cho nhu cầu sản xuất của ngành  thép  Việt  Nam  (bao  gồm:  quặng  sắt, than mỡ, than antraxit, đá vôi, đôlômít, quắc zít,  vật  liệu  chịu  lửa,  dầu  và  khí…) chủ  yếu được khai thác từ các mỏ TNKS trong nước và một phần trong số đó (quặng sắt và than mỡ để luyện than cốc) được nhập khẩu từ các nước trên thế giới.

Đánh giá tiềm  năng  quặng  sắt Việt Nam đối với sự phát triển ngành thép Việt Nam [2]

Quặng sắt Việt Nam có 216 mỏ và điểm mỏ với tổng trữ lượng tài nguyên khoảng 1,28 tỷ tấn, trong đó mỏ Thạch Khê là 544 triệu tấn và mỏ Quý Xa là 112,35 triệu tấn. Nhưng trữ lượng có thể huy động khai thác chỉ khoảng 761,41 triệu tấn; trong đó trữ lượng đã thăm dò cấp A+B+C1 (111+122+211) là 568,18 triệu tấn; cấp C2 (122 và 222) là 93,23 triệu tấn, số còn lại ở cấp dự báo P1 (334a và 334b) với hàm lượng sắt thấp (Fe = 25-40 %). Quặng sắt Việt Nam gồm các loại man- hetít, hematit, limonit, siderit… Quặng sắt manhetít có nhiều nhất với trữ lượng 593,47 triệu tấn; tiếp đến là limonít (167,93 triệu tấn). Hàm lượng sắt (Fe) thay đổi lớn từ 23-67 %, hàm lượng Mn và Zn của một số mỏ quặng sắt cao rất nhiều so với quặng sắt trên thế giới. Chỉ có 6 mỏ quặng sắt (mỏ Thạch Khê tỉnh Hà Tính; mỏ Trại Cau và Tiến Bộ tỉnh Thái Nguyên; mỏ Ngườm Cháng và Nà Lũng tỉnh Cao Bằng; mỏ Quý Xa tỉnh Lào Cai) được nghiên cứu đầy đủ. Còn lại nhiều mỏ quặng sắt chỉ thăm dò ở cấp C1(332), C2 (333) và dự báo P2, P3 (33b), vì thế thiếu số liệu tin cậy và chưa đủ cơ sở để lập Dự án đầu tư khai thác và tuyển. Mặt khác, quặng sắt thường phân bố rải rác tại các vùng miền núi kém phát triển, giao thông không thuận lợi nên không cho phép khai thác, tuyển và chế biến tập trung với quy mô lớn.

Quặng sắt Việt Nam không nhiều, chất lượng không cao và không có tính cạnh tranh so với quặng sắt của nhiều nước trên thế giới. Vì thế, phải tìm mọi giải pháp khai thác hiệu quả các mỏ quặng sắt trong nước, đồng thời chắc chắn phải tính đến việc nhập khẩu quặng sắt (từ Brazin, Úc, Ấn Độ và các nước khác) để trung hoà chất lượng và đảm bảo nhu cầu số lượng cho sản xuất của ngành thép Việt Nam giai đoạn 2018-2035.

Đánh  giá  tiềm  năng  nguồn  than  đối  với  sự phát triển ngành Thép Việt Nam

Nguồn than mỡ (để luyện tthan cốc) của Việt Nam rất ít, chỉ tập trung ở mỏ Phấn Mễ và mỏ Làng Cẩm tỉnh Thái Nguyên. Các mỏ này do Công ty Cổ phần Gang-Thép Thái Nguyên (TISCO) khai thác từ 1960 đến nay chỉ còn < 2 triệu tấn. Do số lượng ít và chất lượng không cao (độ tro >15 %) nên TISCO phải nhập than mỡ từ Trung Quốc, Nga, Úc để phối trộn với than mỡ trong nước luyện than cốc hay trực tiếp nhập than cốc để sử dụng cho luyện gang lò cao của TISCO [3,4].

Nguồn than antraxit của Vịêt Nam có nhiều ở vùng Quảng Ninh, chất lượng than khá tốt phù hợp cho các nhà máy nhiệt điện. Đối với sản xuất gang-thép có thể sử dụng (20-30) % than antraxit với than mỡ để luyện than cốc cho lò cao hoặc có thể dùng trực tiếp cho luyện kim phi cốc (công nghệ COREX, MIDREX, FASMET, FINEEX, HYL…).

Nhu cầu sử dụng than mỡ để luyện than cốc và than antraxit cho sản xuất gang theo công nghệ lò cao của Việt Nam ngày càng tăng cao, nhưng do lượng than mỡ ỏ Thái Nguyên còn rất ít, các mỏ nhỏ ở vùng Tây Bắc có tổng trữ lượng > 3 triệu tấn nhưng chất lượng thấp (do độ tro >21 %, lưu huỳnh cao nên sử dụng không hiệu quả). Do đó, việc tìm giải pháp nhằm đảm bảo nhu cầu than cho luyện gang lò cao đang đặt ra thách thức lớn đối với các doanh nghiệp của ngành thép Việt Nam từ nay đến năm 2035 [3].

Đánh giá tiềm năng nguồn  nguyên  liệu khác đối với sự phát triển ngành thép Việt Nam

Nguồn nguyên liệu trợ dung (đá vôi, đôlomit, quaczit,…) khá lớn tập trung ở các tỉnh trong cả nước, đủ cung cấp cho nhu cầu luyện kim. Để sử dụng hiệu quả cho luyện kim cần chú ý nâng cao chất lượng và tìm giải pháp hạ giá thành trong khai thác và chế biến.

Nguồn dầu và khí đủ đáp ứng cho ngành luyện kim Việt Nam, nhưng do giá thành khí cao nên chưa có sức thu hút đối với các Dự án sản xuất gang thép có sử dụng khí (công nghệ MIDREX…).

Nguồn Mn, Cr,… của Việt Nam có thể đáp ứng đủ nhu cầu cho sản xuất thép hợp kim.

Do khuôn khổ có hạn, bài viết này chỉ tập trung đánh giá thực trạng và những tồn tại về HĐKS của một số mỏ thuộc Tổng công ty Thép Việt Nam-CTCP (VNSTEEL) để từ đó tìm ra giải pháp (GP) phù hợp cho HĐKS của ngành thép Việt Nam trong giai đoạn 2018-2035.

Bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

You may use these HTML tags and attributes: <a href="" title=""> <abbr title=""> <acronym title=""> <b> <blockquote cite=""> <cite> <code> <del datetime=""> <em> <i> <q cite=""> <strike> <strong>